ĐẢNG BỘ, CHÍNH QUYỀN VÀ NHÂN DÂN PHƯỜNG ĐỒNG PHÚ QUYẾT TÂM THỰC HIỆN THẮNG LỢI ĐỢT THI ĐUA ĐẶC BIỆT 500 NGÀY ĐÊM “ĐOÀN KẾT - KỶ CƯƠNG - HIỆU QUẢ - BỨT PHÁ, XÂY DỰNG ĐỒNG NAI PHÁT TRIỂN VĂN MINH, HIỆN ĐẠI”, TIẾP TỤC DUY TRÌ, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HIỆN ĐẾN NĂM 2030

Phường Đồng Phú triển khai tuyên truyền Nghị định số 98/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em

Thứ hai - 10/08/2026 22:59
  • Xem với cỡ chữ 
  •  
  •  
  •  
Thực hiện Kế hoạch số 481/KH-SYT ngày 31/7/2026 của Sở Y tế về triển khai Nghị định số 98/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em, UBND phường Đồng Phú ban triển khai tổ chức tuyên truyền, phổ biến các nội dung của Nghị định đến cán bộ, công chức, các tổ chức, cá nhân và Nhân dân trên địa bàn.

Ngày 31/3/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 16/5/2026 và thay thế Nghị định số 130/2021/NĐ-CP. Việc ban hành Nghị định số 98/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em; xác định cụ thể hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, đối tượng bị xử phạt, thẩm quyền xử phạt và trách nhiệm thi hành.

1. Những quy định chung cần lưu ý

Nghị định áp dụng đối với cá nhân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em theo phạm vi quy định; đồng thời quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền lập biên bản, người có thẩm quyền xử phạt và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Các hình thức xử phạt chính gồm cảnh cáo và phạt tiền; hình thức xử phạt bổ sung gồm tịch thu tang vật vi phạm hành chính và đình chỉ hoạt động có thời hạn theo quy định. Nghị định cũng quy định nhiều biện pháp khắc phục hậu quả, như buộc hoàn trả số tiền đã thu trái pháp luật, buộc chi trả chế độ chính sách đúng quy định, buộc sửa chữa, bổ sung, bảo đảm cơ sở vật chất, nhân sự; thu hồi, xóa, gỡ bỏ thông tin vi phạm và các biện pháp khác tùy từng hành vi.

Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em là 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức. Đối với cùng một hành vi vi phạm, mức phạt tiền đối với tổ chức theo quy định chung gấp hai lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

2. Nghiêm cấm hành vi gian dối để hưởng chính sách trợ giúp xã hội

Nghị định quy định xử phạt đối với các hành vi giả mạo, gian dối để được hưởng trợ giúp xã hội khẩn cấp; giả mạo, gian dối là nạn nhân bị mua bán người để hưởng chính sách hỗ trợ; khai báo gian dối để được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, trợ cấp hưu trí xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc được tiếp nhận vào cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em và các cơ sở có liên quan. Mức phạt tùy từng hành vi từ 500.000 đồng đến 5 triệu đồng, đồng thời có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp hoặc dừng việc chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở theo quy định.

Do đó, mỗi cá nhân cần trung thực trong việc kê khai, xác lập hồ sơ và thực hiện các thủ tục để hưởng chính sách; không lợi dụng chính sách của Nhà nước để trục lợi.

3. Bảo vệ người cao tuổi, người khuyết tật

Nghị định quy định các hành vi vi phạm liên quan đến quyền và nghĩa vụ đối với người cao tuổi, trong đó xử phạt hành vi cản trở người cao tuổi thực hiện các quyền hợp pháp; không ưu tiên người cao tuổi trong một số trường hợp theo quy định; không thực hiện chi trả khoản tiền hỗ trợ của Nhà nước cho người cao tuổi.

Đáng chú ý, hành vi bắt người cao tuổi nhịn ăn, nhịn uống, hạn chế vệ sinh cá nhân, bắt sống ở nơi có môi trường độc hại, nguy hiểm hoặc thực hiện các hình thức đối xử tồi tệ khác có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với người khuyết tật, Nghị định xử phạt hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử; cản trở quyền kết hôn, quyền nuôi con hợp pháp; cản trở người khuyết tật sống độc lập, hòa nhập cộng đồng và tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội. Nghị định cũng quy định xử phạt đối với hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân, tình trạng của người khuyết tật để trục lợi hoặc lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người khuyết tật thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Trong lĩnh vực giao thông công cộng, hành vi không ưu tiên bán vé, không giúp đỡ, sắp xếp chỗ ngồi thuận tiện cho người khuyết tật, người cao tuổi hoặc từ chối chuyên chở người khuyết tật, phương tiện, thiết bị hỗ trợ phù hợp có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 3 triệu đồng.

4. Tăng cường bảo vệ, chăm sóc trẻ em

Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP là quy định xử phạt đối với các hành vi xâm phạm quyền trẻ em.

Cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc bỏ mặc trẻ em có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng; hành vi cố ý bỏ rơi trẻ em nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng.

Đối với hành vi bạo lực với trẻ em, Nghị định quy định phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với một số hành vi như bắt trẻ em nhịn ăn, nhịn uống, hạn chế vệ sinh cá nhân; bắt sống trong môi trường độc hại, nguy hiểm; gây tổn hại về tinh thần, xúc phạm nhân phẩm, danh dự, lăng mạ, chửi mắng, đe dọa hoặc sử dụng các biện pháp trừng phạt gây tổn hại đến thể chất, tinh thần của trẻ em.

Nghị định cũng quy định mức phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi và sự phát triển của trẻ; phạt từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng đối với một số hành vi tổ chức, ép buộc trẻ em đi xin ăn, sử dụng trẻ em để xin ăn hoặc bóc lột, ép buộc trẻ em lao động trái quy định.

5. Bảo vệ thông tin, đời sống riêng tư của trẻ em

Trong bối cảnh mạng xã hội và môi trường số ngày càng phát triển, việc bảo vệ thông tin cá nhân của trẻ em là nội dung cần được đặc biệt quan tâm.

Nghị định quy định phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em khi không có sự đồng ý theo quy định. Các thông tin được bảo vệ bao gồm tên, tuổi, đặc điểm nhận dạng, tình trạng sức khỏe, hình ảnh cá nhân, thông tin về gia đình, nơi ở, trường lớp, kết quả học tập, số điện thoại và các thông tin liên quan khác của trẻ em. Người vi phạm còn có thể bị buộc xin lỗi khi có yêu cầu và buộc thu hồi, xóa, gỡ bỏ thông tin vi phạm.

Vì vậy, mỗi gia đình, cơ quan, tổ chức và cá nhân cần thận trọng khi thu thập, sử dụng, đăng tải hoặc chia sẻ hình ảnh, thông tin của trẻ em trên môi trường mạng; không đăng tải những nội dung có thể gây ảnh hưởng đến sự an toàn, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển của trẻ.

6. Chủ động phát hiện, thông báo và bảo vệ trẻ em có nguy cơ bị xâm hại

Nghị định quy định xử phạt đối với hành vi không thông báo, không cung cấp hoặc che giấu thông tin về trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bạo lực, xâm hại; không thông báo về hành vi xâm hại trẻ em; ngăn cản việc cung cấp thông tin cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền hoặc không phối hợp khi được yêu cầu.

Mức phạt đối với một số hành vi không thông báo, che giấu thông tin về trẻ em có nguy cơ bị xâm hại từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng; đối với một số hành vi liên quan đến trẻ em bị xâm hại từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng. Trường hợp không thực hiện đầy đủ, kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp hoặc từ chối hỗ trợ, can thiệp, chăm sóc thay thế đối với trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi có thể bị phạt từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng.

Nghị định số 98/2026/NĐ-CP không chỉ quy định chế tài xử phạt mà còn góp phần nâng cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong bảo vệ, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng yếu thế. Để Nghị định được thực hiện hiệu quả, mỗi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và Nhân dân cần chủ động tìm hiểu, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật; không lợi dụng chính sách bảo trợ, trợ giúp xã hội để trục lợi; tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật; kịp thời thông báo, tố giác các hành vi xâm hại, bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em và các hành vi vi phạm pháp luật khác.

UBND phường Đồng Phú đề nghị các cơ quan, đơn vị, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Trưởng các khu phố tiếp tục phối hợp tuyên truyền, phổ biến Nghị định số 98/2026/NĐ-CP bằng các hình thức phù hợp; qua đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật và xây dựng môi trường an toàn, lành mạnh, nhân văn trên địa bàn.

(đính kèm: Nghị định số 98/NĐ-CP của Chính phủ)./.

Tác giả: Nguyễn Nhài

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ
ĐẢNG ỦY - HĐND - UBND - UBMTTQ VIỆT NAM PHƯỜNG ĐỒNG PHÚ

Chịu trách nhiệm chung: Phó Chủ tịch UBND phường- Trưởng Ban Biên tập: Lê Thị Lê
Chịu trách nhiệm nội dung: Chánh Văn phòng HĐND và UBND phường, Phó TBTT Ban biên tập Nguyễn Tiến Ngận
Địa chỉ: Đường Trần Phú, Khu phố Tân Phú, phường Đồng Phú, thành phố Đồng Nai
Website:http://dongphu.dongnai.gov.vn        
Email: ubnd-dongphu@dongnai.gov.vn

 

Thông báo
Thống kê truy cập

Hôm nay

4,056

Tổng lượt truy cập

1,563,372
Thăm dò ý kiến
Đánh giá về trang thông tin điện tử phường Đồng Phú
R1
R12
R3
R5
R6
R7
R8
R9
R10
R11
R13
R14
R15
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây